HỘI NỮ TRÍ THỨC VIỆT NAM (VAFIW)

TRUNG TÂM ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KHỞI NGHIỆP (COSTAS)

Bài viết mới

Công cụ sàng lọc tim mạch có thể bỏ sót 50% ca nguy cơ cao

Các công cụ sàng lọc tim mạch hiện đang được sử dụng để phòng ngừa nhồi máu cơ tim không phát hiện được gần một nửa số người thực sự có nguy cơ, theo một nghiên cứu mới do nhà khoa học Mount Sinai dẫn đầu.

Kết quả nghiên cứu, được công bố trên tạp chí y khoa JACC: Advances, chỉ ra một lỗ hổng lớn trong chăm sóc bệnh nhân: việc tuân thủ hướng dẫn sàng lọc hiện tại có thể dẫn đến bỏ lỡ cơ hội phát hiện sớm và phòng ngừa nhồi máu cơ tim.

Các nhà nghiên cứu đã đánh giá độ chính xác của một công cụ được sử dụng rộng rãi đó là: thang điểm nguy cơ bệnh tim xơ vữa động mạch (ASCVD);  và một thang đo mới hơn gọi là PREVENT, vốn bổ sung nhiều biến số nhằm đưa ra ước tính toàn diện hơn về nguy cơ tim mạch, kết hợp với sàng lọc triệu chứng.

Tiến sĩ  Amir Ahmadi cho biết: “Tăng cường nghiên cứu cho thấy các công cụ đánh giá nguy cơ dựa trên dân số thường không phản ánh đúng nguy cơ thực tế của từng bệnh nhân. Nếu chúng ta gặp những bệnh nhân này chỉ hai ngày trước khi họ bị nhồi máu cơ tim, gần một nửa sẽ không được khuyến nghị làm thêm xét nghiệm hoặc điều trị dự phòng theo hướng dẫn hiện tại”.

Nghiên cứu này cho thấy cách tiếp cận hiện nay; dựa vào điểm nguy cơ và triệu chứng như hàng rào chính để chỉ định phòng ngừa là chưa tối ưu. Đã đến lúc cần xem xét lại mô hình này và chuyển sang chẩn đoán hình ảnh học xơ vữa động mạch để phát hiện mảng xơ vữa thầm lặng; tức tình trạng xơ vữa sớm, trước khi nó có cơ hội vỡ ra.

Trong thực hành lâm sàng, bác sĩ tính điểm nguy cơ bệnh tim mạch xơ vữa động mạch của bệnh nhân trong các lần khám sức khỏe định kỳ. Điều này thường áp dụng cho những người từ 40 đến 75 tuổi chưa được chẩn đoán mắc bệnh tim.

Thang điểm này ước tính nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ trong 10 năm dựa trên các yếu tố như tuổi, giới tính, chủng tộc, huyết áp, cholesterol, tiểu đường và tình trạng hút thuốc. Bác sĩ sử dụng các công cụ cho bệnh tim mạch xơ vữa động mạch (ASCVD) hoặc PREVENT để quyết định có nên bắt đầu điều trị dự phòng, bao gồm cả việc có nên bắt đầu liệu pháp statin hay không.

Các bác sĩ tim mạch cũng dựa vào những công cụ này. Bệnh nhân có điểm nguy cơ trung bình hoặc cao thường được kê thuốc giảm cholesterol và có thể được chỉ định làm thêm xét nghiệm. Còn nhóm có điểm nguy cơ thấp hoặc cận thấp, đặc biệt là nếu không có triệu chứng như đau ngực hoặc khó thở, thường được trấn an và cho về mà không đánh giá thêm.

Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy nếu những bệnh nhân chuẩn bị bị nhồi máu cơ tim được đánh giá trước đó hai ngày, gần một nửa trong số họ sẽ bị xếp vào nhóm nguy cơ thấp hoặc cận thấp theo ASCVD và do đó không được khuyến nghị điều trị dự phòng; con số này còn cao hơn theo PREVENT.

Để đánh giá hiệu quả của các công cụ sàng lọc hiện tại, các nhà khoa học đã phân tích hồi cứu dữ liệu từ 474 bệnh nhân dưới 66 tuổi không có tiền sử bệnh động mạch vành. Tất cả đều được điều trị nhồi máu cơ tim lần đầu tại bệnh viện đa khoa Mount Sinai Morningside và bệnh viện Mount Sinai ở New York từ tháng 1/2020 đến tháng 7/2025.

Nhóm nghiên cứu thu thập thông tin cá nhân bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, tiền sử bệnh, mức cholesterol, huyết áp và thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên; được định nghĩa là đau ngực hoặc khó thở.

Với mỗi bệnh nhân, điểm nguy cơ ASCVD trong 10 năm được tính toán và một phép đánh giá mô phỏng được thực hiện như thể họ được khám hai ngày trước khi bị nhồi máu cơ tim. Bệnh nhân được chia thành bốn nhóm nguy cơ: thấp (dưới 5%), cận thấp (5–7,5%), trung bình (7,5–20%) và cao (trên 20%). Kết quả tập trung vào hai yếu tố: ai đủ điều kiện được điều trị dự phòng dựa trên điểm nguy cơ, và thời điểm xuất hiện triệu chứng. Nhìn chung, 45% bệnh nhân sẽ không được khuyến nghị điều trị dự phòng hoặc làm xét nghiệm chẩn đoán theo hướng dẫn dựa trên ASCVD, và con số này tăng lên 61% khi áp dụng PREVENT. Phần lớn bệnh nhân (60%) không xuất hiện triệu chứng như đau ngực hoặc khó thở cho đến dưới hai ngày trước biến cố tim mạch, cho thấy triệu chứng thường xuất hiện quá muộn để thay đổi tiến trình bệnh.

Các phát hiện này cho thấy một khoảng trống nghiêm trọng trong chiến lược phòng ngừa hiện nay: những người có vẻ khỏe mạnh theo các thước đo tiêu chuẩn có thể có cơn đau tim thầm lặng. Việc chỉ dựa vào điểm nguy cơ và triệu chứng khiến việc chẩn đoán bị trì hoãn cho đến khi quá muộn.

Tác giả nghiên cứu – bác sĩ Anna Mueller cho biết: “Khi nhìn lại các ca nhồi máu cơ tim, phần lớn xảy ra ở những bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp hoặc trung bình. Nghiên cứu này cho thấy điểm nguy cơ thấp và không có triệu chứng điển hình như đau ngực hay khó thở không đảm bảo an toàn trên từng cá nhân”. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra một thiếu sót lớn: các công cụ hiệu quả trong theo dõi quần thể lại không đủ chính xác để định hướng điều trị cá nhân hóa. Thay vào đó, bác sĩ nên tập trung vào phát hiện mảng xơ vữa để điều trị sớm hơn; điều có thể cứu sống bệnh nhân.

Các nhà khoa học cho rằng cần nhiều nghiên cứu hơn để phát triển hướng tiếp cận này, và nghiên cứu tương lai nên tập trung tối ưu hóa các chiến lược tăng cường phát hiện sớm và phòng ngừa, bao gồm cả hình ảnh học tim mạch.

Đ.T.V (NASTIS). theo https://medicalxpress.com/news/, 2025

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ hàng
Lên đầu trang

Đăng ký đặt mua

091 359 7827