HỘI NỮ TRÍ THỨC VIỆT NAM (VAFIW)

TRUNG TÂM ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KHỞI NGHIỆP (COSTAS)

Tin mới

Theo TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang, nếu được hỗ trợ đúng cách, kết nối đúng mạng lưới và trao cơ hội đúng tầm, các nhà khoa học nữ Việt Nam sẽ trở thành lực lượng tiên phong trong kiến tạo kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức và mô hình phát triển nhân văn, bao trùm, bền vững cho Việt Nam.

Ngày 10/6/2026, tại Hà Nội, Hội Nữ trí thức Việt Nam phối hợp với Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) tổ chức Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số”, nhằm tìm kiếm các giải pháp giúp các nhà khoa học nữ đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đóng góp cho đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi xanh và chuyển đổi số (CĐS) của Việt Nam.

Hội thảo thu hút hơn 180 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu, mạng lưới nữ trí thức, cộng đồng doanh nghiệp (DN), các quỹ đầu tư, đối tác phát triển, tổ chức quốc tế và Liên Hợp Quốc tham dự.

Gỡ rào cản để nhà khoa học nữ Việt Nam đưa tri thức ra thị trường

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS. TS. Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam cho biết, Hội thảo diễn ra trong bối cảnh đất nước đang quyết tâm triển khai các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, với Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) đã khẳng định đây là những động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

439-202606101721172.jpg
GS. TS. Lê Thị Hợp: Việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học, nữ trí thức toàn diện, đáp ứng giới và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu – đổi mới – doanh nghiệp và thị trường là yêu cầu cấp thiết.

Nền kinh tế xanh và kinh tế số đang tạo ra những cơ hội phát triển to lớn, đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động nghiên cứu, ĐMST và chuyển giao công nghệ. Trong tiến trình đó, đội ngũ nữ tri thức khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Với gần một nửa lực lượng nghiên cứu và phát triển (R&D) của cả nước, các nhà khoa học nữ không chỉ góp phần tạo ra tri thức mới mà còn đóng góp tích cực vào việc giải quyết các thách thức về môi trường, xã hội và phát triển bền vững.

Vì vậy, việc xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học, nữ trí thức toàn diện, đáp ứng giới và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu – đổi mới – DN và thị trường là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là giải pháp để phát huy tiềm năng của đội ngũ nữ khoa học mà còn là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng xanh, ĐMST và phát triển bền vững của đất nước.

Hệ sinh thái đó cần được thiết kế như một chuỗi liên kết thông suốt giữa nghiên cứu KH,CN, ĐMST, DN, nhà đầu tư và thị trường; tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở các công bố khoa học mà có thể chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, dịch vụ và các mô hình kinh doanh tạo ra giá trị cho xã hội.

Hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học không thể chỉ là tập hợp của các chính sách hay cơ chế hành chính đơn lẻ. Đó phải là một môi trường phát triển năng động, cởi mở và kết nối, nơi các nhà khoa học nữ được tiếp cận nguồn lực, được truyền cảm hứng, được đồng hành bởi các chuyên gia, DN và nhà đầu tư; đồng thời có cơ hội hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo, đưa các kết quả nghiên cứu đến với thị trường và cuộc sống.

Chia sẻ tại Hội thảo, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cho biết, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi cơ cấu mang tính quyết định. Trong đó, KH,CN, ĐMST và CĐS chính là những động lực trung tâm để đưa quốc gia phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.

TSKH. Phan Xuân Dũng nhấn mạnh nguồn lực trí tuệ là yếu tố cốt lõi. Các nữ khoa học Việt Nam, với sự thông minh, chăm chỉ, kiên trì, lòng say mê và cả những hy sinh thầm lặng đã và đang đóng góp những công trình nghiên cứu có giá trị cao cho xã hội”.

439-202606101721173.jpg
TSKH. Phan Xuân Dũng: Các nhà khoa học nữ Việt Nam, với sự thông minh, chăm chỉ, kiên trì, lòng say mê và cả những hy sinh thầm lặng đã và đang đóng góp những công trình nghiên cứu có giá trị cao cho xã hội.

Tuy nhiên, theo TSKH. Phan Xuân Dũng, tiềm năng của các nhà khoa học nữ vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Các nhà khoa học nữ vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Đặc biệt là khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường còn rất xa do thiếu cơ chế kết nối. Việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính, các quỹ đầu tư và cơ chế hỗ trợ chuyên biệt còn nhiều hạn chế.

Bên cạnh đó, định kiến giới và gánh nặng công việc chăm sóc gia đình vô hình đã tạo ra những áp lực kép, hạn chế cơ hội bứt phá của các nhà khoa học nữ.

Theo Chủ tịch VUSTA, để giải phóng toàn diện sức sáng tạo và đưa sản phẩm của các nhà khoa học nữ “ra thị trường”, chúng ta cần một Hệ sinh thái tích hợp và có đáp ứng giới. Hệ sinh thái đó bao gồm:

Thứ nhất, sự đồng bộ về chính sách. Cần tạo hành lang pháp lý thông thoáng, ưu tiên và khuyến khích các nghiên cứu do phụ nữ chủ trì, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế xanh và kinh tế số.

Thứ hai, cơ chế tài chính đột phá. Hình thành các quỹ hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác công – tư (PPP) để bảo đảm nguồn vốn cho các giai đoạn thử nghiệm và thương mại hóa.

Thứ ba, sự thấu hiểu và sẻ chia. Xây dựng các mô hình quan tâm tới “kinh tế chăm sóc”, giúp giảm tải gánh nặng gia đình để các nhà khoa học nữ an tâm cống hiến.

Đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học Việt Nam gồm 5 trụ cột

Trên thế giới, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa thường được gọi là “Thung lũng chết” (Valley of Death) – giai đoạn mà nhiều sáng kiến đầy tiềm năng không thể phát triển thành sản phẩm hoặc giải pháp thương mại.

Đối với các nhà khoa học nữ, khoảng cách này thường rộng hơn do các rào cản giới trong tiếp cận tài chính, cơ hội lãnh đạo, mạng lưới nghề nghiệp và gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công.

Mặc dù phụ nữ chiếm 46% lực lượng R&D của Việt Nam, tuy nhiên, nhiều kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt vẫn gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các nhiệm vụ KH,CN chỉ đạt 25,5%, trong khi tỷ lệ phụ nữ được cấp bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng chỉ dao động từ 13-20%.

Tại Hội thảo, các đại biểu nhấn mạnh thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở việc tạo ra tri thức mới, mà còn ở việc giúp các nhà khoa học nữ tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đưa tri thức đó vào cuộc sống. Nhiều nữ nhà khoa học vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, dịch vụ tư vấn thương mại hóa, cơ hội hợp tác với DN và các mạng lưới ĐMST.

Chia sẻ về Chiến lược quốc gia về KH,CN&ĐMST, TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Tổng biên tập Tạp chí KH&CN Việt Nam cho biết, Việt Nam xác định KH,CN, ĐMST&CĐS là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế.

Điều này được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030. Trọng tâm của Chiến lược không còn dừng ở việc xây dựng tiềm lực KH&CN mà hướng mạnh tới việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thị trường và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế.

TS. BS. Nguyen Thi Huong Giang
TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học Việt Nam gồm 5 trụ cột.

Điểm nổi bật nhất của Chiến lược là việc xác định các công nghệ chiến lược và công nghệ lõi cần ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số quốc gia.

Đây được xem là những lĩnh vực có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, năng lực cạnh tranh và vị thế công nghệ của Việt Nam trong khu vực.

Những mục tiêu cụ thể được đặt ra cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong việc phát triển nền kinh tế dựa trên KH,CN, ĐMST và CĐS. Đến năm 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tổng đầu tư R&D đạt tối thiểu 2% GDP; kinh tế số đóng góp ít nhất 30% GDP; tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu từ các viện, trường được thương mại hóa.

Bên cạnh đó, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu ASEAN về AI và thu hút khoảng 1.000 lượt trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động khoa học công nghệ mỗi năm.

Trong quá trình triển khai Chiến lược, việc phát huy vai trò của phụ nữ và đội ngũ nhà khoa học nữ đặc biệt quan trọng. Trong nền kinh tế xanh và kinh tế số, phụ nữ không chỉ là lực lượng tham gia nghiên cứu mà còn cần trở thành những người kiến tạo, dẫn dắt, chuyển giao và lan tỏa tri thức vào thị trường.

Các lĩnh vực như AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, nông nghiệp xanh, năng lượng sạch hay ứng phó biến đổi khí hậu đều mở ra không gian rộng lớn để phụ nữ phát huy năng lực chuyên môn và khả năng kết nối cộng đồng.

Để khai thác hiệu quả nguồn lực này, TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học Việt Nam gồm 5 trụ cột: Phát hiện và bồi dưỡng tài năng nữ trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; Thiết kế các quỹ tài trợ có lồng ghép yếu tố bình đẳng giới; Phát triển mạng lưới cố vấn kết nối viện, trường và DN dành cho các nhà khoa học nữ; Hỗ trợ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, định giá và phát triển thị trường; đồng thời xây dựng văn hóa tôn vinh các nhà khoa học nữ và nữ doanh nhân công nghệ.

Nếu được hỗ trợ đúng cách, kết nối đúng mạng lưới và trao cơ hội đúng tầm, các nhà khoa học nữ Việt Nam sẽ không chỉ đóng góp quan trọng vào Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030, mà còn trở thành lực lượng tiên phong trong kiến tạo kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức và mô hình phát triển nhân văn, bao trùm, bền vững cho Việt Nam”, TS. BS. Nguyễn Thị Hương Giang nhấn mạnh.

Tại Hội thảo, các đại biểu khẳng định rằng việc hỗ trợ các nhà khoa học nữ tiếp cận thị trường không chỉ là vấn đề bình đẳng giới mà còn là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy ĐMST và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, thúc đẩy CĐS, chuyển đổi xanh và phát triển dựa trên ĐMST, đây không chỉ là thách thức đối với các nhà khoa học nữ mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển của quốc gia.

Các kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại Hội thảo từ các quốc gia như Canada, Phần Lan, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Australia và Colombia cho thấy những hệ sinh thái ĐMST thành công đều có cơ chế kết nối hiệu quả giữa nhà khoa học, trường đại học, DN, nhà đầu tư và cơ quan hoạch định chính sách. Đây cũng là những yếu tố then chốt giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.

Kết thúc Hội thảo, các đại biểu kêu gọi tăng cường đầu tư vào các chương trình hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt; mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính, cố vấn và kết nối thị trường; đồng thời xây dựng một hệ sinh thái ĐMST toàn diện và bao trùm hơn, nơi các nhà khoa học nữ có thể phát triển các ý tưởng nghiên cứu thành những giải pháp tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cho Việt Nam./.

                                                      Nguồn: Tạp chí KH&CN, Bộ KH&CN

Trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hành trình từ phòng thí nghiệm (Lab) đến thị trường hay bị coi là “thung lũng chết” đối với các nhà khoa học.

Tâm thế của người làm khoa học thời đại mới

Thế nhưng, bà Lê Thị Khánh Vân – Giám đốc Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp (COSTAS) – Hội Nữ trí thức Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, vẫn miệt mài bắc những nhịp cầu, giúp các nữ trí thức hiện thực hóa giấc mơ thương mại hóa công nghệ.

Trong thế giới của những hạt Nano siêu nhỏ và các quy trình lên men phức tạp, người ta thường hình dung về những phòng thí nghiệm kín cổng cao tường và những mái đầu bạc trắng. Nhưng với bà Lê Thị Khánh Vân, khoa học không được phép ngủ quên trong ngăn kéo hay chỉ nằm trên những tấm bằng khen lấp lánh.

Vì vậy, ở tuổi “thất thập”, người phụ nữ ấy vẫn miệt mài dắt tay những nữ nhà khoa học bước qua “thung lũng chết” để đưa sản phẩm từ bàn Lab ra thị trường.

Bên lề một sự kiện kết nối các doanh nghiệp KH-CN sáng nay 14/5 tại Hà Nội, Tạp chí Một Thế Giới đã có cuộc trò chuyện với bà Lê Thị Khánh Vân không chỉ là chuyện về những phát minh đoạt giải quốc tế, mà là câu chuyện về bản lĩnh của trí tuệ Việt trong vận hội kinh tế xanh.

– Thưa bà, là người dành cả đời gắn bó với ngành khoa học và công nghệ (KH-CN), bà nhìn nhận thế nào về sự chuyển mình trong chân dung các nữ nhà khoa học Việt Nam hiện nay? Phải chăng hình ảnh “mọt sách” trong phòng lab đã không còn là tất cả?

– Bà Lê Thị Khánh Vân: Đúng như vậy. Có một định kiến tồn tại rất lâu rằng làm khoa học là khô khan, là tách biệt với đời sống. Nhưng nếu nhìn vào những gương mặt tại Hội Nữ trí thức Việt Nam hay tại Trung tâm COSTAS thì sẽ thấy một tinh thần rất khác.

Các nữ nhà khoa học hiện nay không chỉ dừng lại ở việc công bố bài báo quốc tế hay nhận bằng khen. Họ đang đối mặt với một thách thức lớn hơn: Khởi nghiệp. Tôi thường nói vui rằng, họ đang học cách rời xa chiếc áo blouse trắng để khoác lên mình chiếc áo doanh nhân.

Những gương mặt như GS.TS. Lê Mai Hương hay GS.TS. Vũ Thị Thu Hà không chỉ là những “cây đa cây đề” về chuyên môn, mà họ còn là những người trực tiếp trăn trở về giá thành sản phẩm, về bao bì, về cách làm sao để người dân vùng sâu vùng xa cũng tiếp cận được công nghệ cao.

Dù đã ở tuổi U70, tôi vẫn chưa cho phép mình nghỉ ngơi. Vai trò Giám đốc COSTAS cho tôi cơ hội được làm người gác cổng và cũng là người mở đường. Chúng tôi không chỉ giúp họ nghiên cứu, mà còn dạy họ cách bảo vệ tài sản trí tuệ và đưa sản phẩm đó vào chuỗi giá trị toàn cầu.

– Bà thường nhắc đến việc COSTAS đang nắm giữ những “vũ khí” công nghệ hiện đại. Cụ thể, đâu là những mũi nhọn cốt lõi mà bà và các cộng sự đang tập trung để tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm Việt?

– Bà Lê Thị Khánh Vân: Chúng tôi xác định rõ hai “mũi khoan” chiến lược: Công nghệ Sinh học (đặc biệt là công nghệ lên men) và công nghệ Nano. Đây là hai lĩnh vực có thể tạo ra giá trị gia tăng cực lớn từ nguồn dược liệu phong phú của Việt Nam.

Chúng tôi không chỉ nghiên cứu độc lập mà còn đẩy mạnh chuyển giao công nghệ từ các cường quốc để nội địa hóa. Hãy nhìn vào những gì chúng tôi đang thực hiện:

Tại COSTAS, chúng tôi tự hào với dòng sản phẩm bảo vệ sức khỏe như Nano-Glucurmin hay Bioglucumin. Đây là sự kết hợp giữa tinh hoa nấm dược liệu và công nghệ Nano hóa để tăng khả năng hấp thụ lên hàng chục lần. Những sản phẩm này không chỉ hỗ trợ nâng cao hệ miễn dịch mà còn là niềm hy vọng cho bệnh nhân ung thư, gan, phổi.

Hay dòng sản phẩm cải thiện nội tiết tố nữ – Biopharm Women Plus được sản xuất từ chiết xuất củ marca, quả lựu, củ mài đắng của Việt Nam bằng công nghệ hiện đại; sản phẩm đậu tương lên men (Natto) đã tạo ra một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe toàn diện từ đậu nành lên men theo công nghệ Nhật Bản.

Sự hợp tác giữa các nhà khoa học và các tập đoàn lớn như Sơn KOVA đã cho ra đời những sản phẩm mà thế giới cũng phải nể phục. Chúng tôi có:

Sơn Nano kháng khuẩn, sơn chống cháy: Sử dụng hạt Nano vỏ trấu, một công nghệ hoàn toàn thuần Việt.

Vật liệu đặc biệt: Vải chống cháy, vải chống đâm. Điều này thể hiện rằng khoa học không hề xa vời, nó bảo vệ tính mạng con người trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.

Tấm XPS: Giải pháp chống nóng, chống ồn cho các công trình xanh hiện đại đã giúp cho các công trình lớn giảm được chi phí mà vẫn giữ được công năng hiện đại, tiện nghi.

Khoa học phải nhân văn. Đó là lý do TS. Hà Phương Thư đã nghiên cứu thiết bị thu gom nước từ sương dành cho vùng cao Hà Giang. Hay hệ thống bảng từ cao cấp nâng hạ linh hoạt dành cho các trường đại học quốc tế mà chúng tôi đang triển khai. Chúng ta không chỉ bán một cái bảng, chúng ta đang bán một giải pháp giáo dục hiện đại.

Khát vọng cho sáng chế Việt

– Năm 2024 dường như là một năm “vàng” của nữ trí thức Việt Nam trên trường quốc tế, đặc biệt là tại Hàn Quốc. Bà có thể chia sẻ cảm xúc khi chứng kiến các học trò, đồng nghiệp của mình được xướng tên tại KIWIE?

– Bà Lê Thị Khánh Vân: Đó là niềm tự hào khó diễn tả bằng lời. Tại Triển lãm quốc tế về sáng chế của phụ nữ (KIWIE 2024), chúng ta đã gặt hái “mưa giải thưởng” với Giải thưởng lớn (Semi Grand Prize) và giải đặc biệt từ Cục Sở hữu trí tuệ của Ba Lan.

Nhưng với tôi, huy chương chỉ là bề nổi. Cái quan trọng nhất là các bằng độc quyền sáng chế của chúng ta đã được giới chuyên gia quốc tế thừa nhận về tính ứng dụng. Có những nhà khoa học trẻ, nhờ sự hỗ trợ của COSTAS, đã giành giải và được tài trợ hoàn toàn chuyến đi trao đổi kinh nghiệm tại Abu Dhabi. Điều này tạo ra một sự tiếp nối thế hệ tuyệt vời.

Trong 2 kỳ Triển lãm KIWIE năm 2019, 2024, Đoàn Việt Nam do COSTAS hỗ trợ đã đạt 20 giải thưởng quốc tế với 18 sáng chế của 14 nữ khoa học. Điều này đã đã chứng minh rằng trí tuệ phụ nữ Việt không hề thua kém bất kỳ quốc gia phát triển nào. Tuy nhiên, trăn trở của tôi là làm sao để những huy chương đó biến thành những dây chuyền sản xuất hàng loạt, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.

– Sắp tới vào ngày 10/6/2026, Hội Nữ trí thức Việt Nam có một kế hoạch rất lớn về hội thảo quốc tế với chủ đề “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng Hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế và kinh tế số”. Đây có phải là bước đi chiến lược để hiện thực hóa nền kinh tế xanh và chuyển đổi số mà bà hằng theo đuổi?

– Bà Lê Thị Khánh Vân: Đúng vậy. Chúng tôi đang hợp tác chặt chẽ với UNDP, UN Women và các đại sứ quán (Anh, Ý) để thực hiện các dự án nâng cao vị thế cho nữ lãnh đạo trong KH-CN.

Hội thảo quốc tế vào tháng 6 tới không chỉ là nơi trao đổi học thuật. Đó là nơi chúng tôi kết nối: Nhà khoa học – Nhà nước – Nhà đầu tư – Doanh nghiệp.

Với nhà khoa học: Chúng tôi cung cấp kỹ năng quản trị, kỹ năng thương mại hóa.

Với thị trường: Chúng tôi cam kết những sản phẩm “Made in Vietnam” dựa trên nền tảng công nghệ lõi, đạt chuẩn quốc tế.

Tầm nhìn của chúng tôi là một hệ sinh thái bền vững. Ở đó, các nhà khoa học như PGS.TS. Nguyễn Minh Tân với công nghệ cô đặc nước quả JEVA hay TS. Nguyễn Thị Ngoan với các dòng men vi sinh thế hệ mới sẽ không còn phải loay hoay tìm đầu ra. Họ sẽ chủ động đặt hàng ngược lại cho thị trường.

– Bà có thông điệp gì gửi đến các doanh nghiệp và các bạn trẻ đang có ý định khởi nghiệp từ khoa học?

– Bà Lê Thị Khánh Vân: Tôi muốn cộng đồng biết rằng: Khoa học Việt Nam không chỉ có bằng khen treo trên tường. Chúng ta có những sản phẩm thực thụ, có thể thay đổi chất lượng cuộc sống và cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường toàn cầu.

Với các chủ đầu tư, các hiệu trưởng hay các doanh nghiệp đang tìm kiếm giải pháp đổi mới: Hãy tin dùng trí tuệ Việt. Tại COSTAS, chúng tôi sẵn sàng đồng hành để biến các kết quả nghiên cứu thành lợi nhuận và giá trị xã hội. Đừng để những sáng chế quý giá nằm yên trong ngăn kéo, hãy để chúng tỏa sáng trên kệ hàng và trong lòng người tiêu dùng.

Xin cảm ơn bà về những chia sẻ!

 

Ngày 9/6, tại Hà Nội, Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức lễ tôn vinh và biểu dương Hội viên Nữ trí thức Việt Nam tiêu biểu năm 2026, nhằm ghi nhận, tôn vinh và lan tỏa những đóng góp của đội ngũ nữ trí thức đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Tham dự buổi lễ có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Doan, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Danh dự Hội Nữ trí thức Việt Nam; Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Lê Thị Thủy.

Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt khi được tổ chức nhân dịp Hội Nữ trí thức Việt Nam tròn 15 năm hình thành và phát triển (2011-2026). Đây không chỉ là dịp biểu dương những cá nhân xuất sắc trong hoạt động khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa, kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế, mà còn lan tỏa tinh thần cống hiến, khơi dậy khát vọng sáng tạo, truyền cảm hứng cho thế hệ phụ nữ đóng góp ngày càng hiệu quả cho sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Tại buổi lễ, 44 nữ trí thức tiêu biểu được tôn vinh lần đầu tiên trong suốt chặng đường 15 năm xây dựng và phát triển của Hội. Ngoài ra, 118 nữ trí thức tiêu biểu giai đoạn 2021-2026 cũng được biểu dương vì những thành tích nổi bật trong hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoa học và đóng góp cho cộng đồng.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài khẳng định sự kiện nhằm ghi nhận những thành tích nổi bật của nữ trí thức trong hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động của Hội Nữ Trí Thức Việt Nam. 162 nhà khoa học, hội viên được tôn vinh và biểu dương hôm nay đã khẳng định vị thế của đội ngũ nữ trí thức cả nước trong nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa và đối ngoại, góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, lan tỏa giá trị phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ những tấm gương nữ trí thức tiêu biểu trong lễ tôn vinh và biểu dương, có thể thấy sự lớn mạnh không ngừng của Hội Nữ trí thức Việt Nam 15 năm qua. Hội đã từng bước khẳng định vai trò là tổ chức kết nối, phát huy và lan tỏa giá trị của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam, với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng và hiệu quả, không chỉ trong nước mà còn mở rộng tầm ảnh hưởng ra khu vực và quốc tế.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ mong muốn bằng tất cả nhiệt huyết, trí tuệ, bản lĩnh của mình, các nữ trí thức tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số của quốc gia, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, 44 nữ trí thức Việt Nam tiêu biểu được tôn vinh hôm nay là những tấm gương xuất sắc về trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần cống hiến. Với nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa và đối ngoại, các chị đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Buổi lễ ngày hôm nay là dịp ghi nhận, tri ân những đóng góp quý báu của những nữ trí thức Việt Nam, đồng thời khích lệ các thế hệ nữ trí thức, đặc biệt là thế hệ trẻ, tiếp tục phát huy tài năng, đóng góp cho sự phát triển của Hội Nữ trí thức Việt Nam và đất nước.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Doan và Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Hợp trao khen thưởng cho các hội viên tiêu biểu của Hội Nữ trí thức Việt Nam. (Ảnh: Ban tổ chức)

Trong số 44 đại biểu được tôn vinh có 14 Giáo sư, 14 Phó Giáo sư, 2 Nhà giáo Nhân dân, 3 Nhà giáo Ưu tú, 2 Thầy thuốc Nhân dân, 1 Thầy thuốc Ưu tú, 2 Nghệ sĩ Nhân dân, 1 Đại sứ và 4 Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Có thể kể đến một số gương mặt tiêu biểu như: Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Doan, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Danh dự Hội Nữ trí thức Việt Nam; Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Phạm Thị Trân Châu, nguyên Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam nhiệm kỳ I và nhiệm kỳ II; Anh hùng Lao động Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm đã lai tạo nhiều giống lúa chất lượng cao…

Hội Nữ trí thức Việt Nam được thành lập ngày 8/3/2011, với 350 hội viên ban đầu. Trải qua 15 năm xây dựng và phát triển, đến nay Hội đã quy tụ gần 6.000 hội viên trên cả nước, gồm các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, chuyên gia, nhà quản lý, doanh nhân, nhà ngoại giao, nghệ sĩ, nhà báo…, đang đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Từ năm 2018, Hội chính thức trở thành thành viên của Mạng lưới các nhà khoa học và kỹ sư nữ khu vực châu Á-Thái Bình Dương (INWES-APNN), qua đó mở rộng quan hệ đối ngoại và từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

 

Các nhà hoạch định chính sách tại Liên minh châu Âu đang chuẩn bị đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến nguồn nhiệt sử dụng trong công nghiệp – yếu tố có thể quyết định liệu khu vực này có duy trì được nền sản xuất cạnh tranh hay tiếp tục chứng kiến sự suy giảm của cơ sở công nghiệp. Những chính sách sắp được công bố được kỳ vọng sẽ định hình tương lai của ngành sản xuất châu Âu trong bối cảnh giá năng lượng biến động mạnh và áp lực giảm phát thải ngày càng gia tăng.

Nhiệt công nghiệp – yếu tố sống còn của sản xuất

Các ngành công nghiệp như sản xuất hóa chất, luyện thép, lắp ráp ô tô, chế biến thực phẩm hay sản xuất điện tử có sản phẩm đầu ra rất khác nhau, nhưng đều phụ thuộc vào một yếu tố đầu vào quan trọng: nhiệt công nghiệp.

Theo số liệu của International Energy Agency, ngành công nghiệp chiếm khoảng 25% tổng mức tiêu thụ năng lượng của châu Âu, trong đó các ứng dụng nhiệt chiếm khoảng một nửa nhu cầu năng lượng của toàn ngành. Nhiệt được sử dụng trong nhiều công đoạn như nấu, sấy, tiệt trùng, luyện kim hoặc xử lý vật liệu.

Trong nhiều thập kỷ, phần lớn các nhà máy ở châu Âu tạo ra nhiệt bằng lò hơi đốt khí tự nhiên. Tuy nhiên, kể từ khi Nga xâm lược Ukraine năm 2022 làm gián đoạn nguồn cung năng lượng và đẩy giá khí đốt tại châu Âu tăng vọt, chi phí sản xuất của nhiều doanh nghiệp đã tăng mạnh. Hệ quả là nhiều nhà máy phải thu hẹp hoạt động hoặc rơi vào tình trạng thua lỗ. Tại Đức – nền kinh tế và trung tâm sản xuất lớn nhất châu Âu – sản lượng các ngành hóa chất, nhựa và phân bón đã giảm xuống mức thấp kỷ lục. Chi phí năng lượng cao cùng với lộ trình chính sách chưa rõ ràng đã kìm hãm hoạt động sản xuất và kéo giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Thúc đẩy điện hóa nhiệt công nghiệp

Để tạo ra sự ổn định về chính sách và giảm chi phí năng lượng cho doanh nghiệp, các nhà lập pháp châu Âu dự kiến sẽ đưa ra các biện pháp mới nhằm đẩy nhanh việc điện hóa các công nghệ nhiệt công nghiệp. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nhiệt mà không phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Nếu được triển khai hiệu quả, những chính sách này không chỉ giúp giảm chi phí nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch mà còn góp phần cắt giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính từ khu vực công nghiệp.

Tuy nhiên, việc xây dựng một bộ chính sách phù hợp với nhu cầu của các ngành công nghiệp không hề đơn giản. Sự khác biệt về cấu trúc công nghiệp, nguồn năng lượng và ưu tiên chính sách giữa các quốc gia thành viên khiến việc thống nhất các giải pháp chung trở nên rất phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng kinh tế và địa chính trị ngày càng gia tăng trong khu vực.

Áp lực kinh tế và việc làm

Ngoài chi phí năng lượng tăng cao, nhiều chính phủ châu Âu còn phải đối mặt với tình trạng mất việc làm trong ngành công nghiệp và suy giảm nguồn thu thuế từ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn. Khi hoạt động sản xuất suy yếu, ngân sách nhà nước cũng bị ảnh hưởng, đồng thời làm giảm khả năng của các chính phủ trong việc triển khai các chính sách kinh tế mới.

Trong bối cảnh đó, các nhà lập pháp và cố vấn công nghiệp tại Liên minh châu Âu đang chịu áp lực lớn phải xây dựng một lộ trình chuyển đổi mạnh mẽ và hiệu quả. Lộ trình này cần nhanh chóng đưa ngành công nghiệp châu Âu sang mô hình mới dựa trên nguồn điện sạch hơn và chi phí thấp hơn, từ đó tăng cường an ninh năng lượng cũng như năng lực cạnh tranh của khu vực.

Những đề xuất trước kế hoạch điện hóa năm 2026

Trước khi Kế hoạch hành động điện khí hóa 2026 của EU được công bố, nhiều tổ chức nghiên cứu và viện chính sách lớn tại châu Âu đã đưa ra các đề xuất nhằm thúc đẩy quá trình điện hóa nhiệt công nghiệp.

Một báo cáo có sự tham gia của Fraunhofer Institute – tổ chức nghiên cứu ứng dụng hàng đầu của châu Âu – tập trung vào tiềm năng điện hóa các quy trình nhiệt ở mức nhiệt độ thấp và trung bình trong công nghiệp.

Kết quả cho thấy các máy bơm nhiệt công nghiệp chạy điện hiện nay có thể giúp giảm khoảng 20% chi phí vận hành trong ngành thực phẩm và đồ uống so với hệ thống sưởi bằng khí đốt, ngay cả khi giá điện cao gấp ba lần giá khí đốt. Nguyên nhân là do hiệu suất năng lượng của máy bơm nhiệt cao hơn đáng kể so với các thiết bị đốt nhiên liệu hóa thạch. Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều quy trình như nấu, tiệt trùng, thanh trùng và sấy thực phẩm bằng điện thay vì sử dụng khí đốt.

Các nghiên cứu cũng cho thấy ngành giấy và ngành hóa chất có thể thay thế một phần lớn các quy trình nhiệt hiện nay bằng máy bơm nhiệt điện hiệu suất cao, giúp giảm chi phí năng lượng và phát thải carbon.

Điều chỉnh chính sách để thúc đẩy chuyển đổi

Để các doanh nghiệp thực sự chuyển đổi sang công nghệ điện, các chuyên gia cho rằng cần có những thay đổi đáng kể về chính sách thuế và cơ chế khuyến khích.

Một số đề xuất bao gồm:

* Giảm thuế và các khoản phụ phí đối với điện năng nhằm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng điện thay vì khí đốt.

* Tăng thuế đối với khí đốt thông qua việc nâng giá carbon một cách ổn định.

* Cho phép khấu hao nhanh hơn đối với thiết bị điện mới, giúp doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế khi đầu tư vào công nghệ điện hóa.

* Đẩy nhanh quá trình cấp phép cho các dự án điện sạch và nâng cấp lưới điện để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng của ngành công nghiệp.

* Tăng cường các cơ chế tài chính công – tư, giúp doanh nghiệp có đủ nguồn lực đầu tư vào các công nghệ mới.

Những biện pháp này được xem là cần thiết để tạo động lực kinh tế cho doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ trong thời gian ngắn.

Thách thức lớn đối với châu Âu

Việc triển khai đồng thời các chính sách trên trong nhiều quốc gia với tốc độ nhanh sẽ là một trong những thách thức lớn nhất mà các nhà hoạch định chính sách châu Âu từng đối mặt. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.

Tuy nhiên, nếu không kịp thời trang bị cho ngành công nghiệp những công cụ cần thiết để lấy lại lợi thế cạnh tranh, châu Âu có nguy cơ đối mặt với sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp và một cú sốc kinh tế sâu rộng kéo dài trong toàn khu vực.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt và quá trình chuyển đổi năng lượng diễn ra mạnh mẽ, các quyết định chính sách về nhiệt công nghiệp có thể trở thành yếu tố then chốt quyết định tương lai của nền sản xuất châu Âu trong nhiều thập kỷ tới.

Hàm ý cho doanh nghiệp

Những thay đổi trong chính sách năng lượng của Liên minh châu Âu cho thấy xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang điện hóa nhiệt công nghiệp nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất. Điều này gợi mở một số định hướng quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và chế biến.

Trước hết, doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào các công nghệ nhiệt sử dụng điện, như hệ thống bơm nhiệt công nghiệp hoặc các giải pháp điện hóa quy trình sản xuất. Những công nghệ này không chỉ giúp giảm chi phí năng lượng trong dài hạn mà còn giúp doanh nghiệp thích ứng với các quy định ngày càng chặt chẽ về phát thải và sử dụng năng lượng sạch.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các quy trình sản xuất. Việc tối ưu hóa vận hành, cải tiến thiết bị và ứng dụng công nghệ số để quản lý năng lượng có thể giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất và hạn chế rủi ro từ biến động giá nhiên liệu.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần theo dõi sát các chính sách hỗ trợ và cơ chế tài chính liên quan đến chuyển đổi năng lượng, bao gồm các ưu đãi thuế, hỗ trợ đầu tư hoặc các chương trình khuyến khích sử dụng điện sạch. Việc tận dụng kịp thời các cơ chế này sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư ban đầu và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi công nghệ.

Trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, các doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng sẽ có nhiều cơ hội duy trì lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững trong dài hạn.

                         Nguồn: N.M.P (NASTIS), reuters.com

Phụ phẩm từ quá trình sản xuất dầu hướng dương có thể trở thành một nguyên liệu giàu dinh dưỡng giúp cải thiện chất lượng bánh mì. Các nhà khoa học đã phát hiện rằng phần bột còn lại sau khi ép dầu từ hạt hướng dương – thường bị xem là phụ phẩm – thực chất có thể được sử dụng để tăng giá trị dinh dưỡng cho bánh mì, đồng thời góp phần giảm lãng phí trong ngành công nghiệp thực phẩm.

Nghiên cứu do nhà sinh học Leonardo Mendes de Souza Mesquita thực hiện tại Institute of Biosciences thuộc Đại học São Paulo (Brazil) cho thấy việc thay thế một phần bột mì bằng bột hạt hướng dương đã tách bớt dầu có thể giúp bánh mì giàu protein, chất xơ và chất chống oxy hóa hơn. Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí ACS Food Science & Technology.

Tận dụng phụ phẩm để nâng cao giá trị dinh dưỡng

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các thực phẩm lành mạnh hơn, các nhà khoa học đang tìm kiếm những nguyên liệu mới có thể cải thiện giá trị dinh dưỡng của thực phẩm quen thuộc mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất ở quy mô lớn. Một trong những lựa chọn đầy tiềm năng là bột hạt hướng dương tách béo một phần, phần còn lại sau khi dầu hướng dương được ép ra.

Theo các nhà nghiên cứu, loại bột này có hàm lượng protein rất cao, từ 40% đến 66%, đồng thời chứa nhiều chất xơ, sắt, canxi và axit chlorogenic – một hợp chất có khả năng chống oxy hóa, chống viêm và hỗ trợ kiểm soát đường huyết. Vì vậy, nếu được sử dụng trong sản xuất thực phẩm, đặc biệt là bánh mì, nguyên liệu này có thể giúp tăng đáng kể giá trị dinh dưỡng của sản phẩm.

Bên cạnh lợi ích về sức khỏe, việc sử dụng bột hạt hướng dương còn giúp giảm tác động môi trường của quá trình sản xuất dầu hướng dương. Thông thường, phụ phẩm này được bán với giá rẻ để tránh phải xử lý như chất thải, vì vậy nó cũng là một nguyên liệu có chi phí thấp đối với ngành chế biến thực phẩm.

Thử nghiệm bột hướng dương trong bánh mì

Để kiểm chứng khả năng ứng dụng của loại bột này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm nhiều công thức bánh mì khác nhau. Trong các công thức đó, bột mì được thay thế bằng bột hạt hướng dương ở các tỷ lệ từ 10% đến 60%. Các mẫu bánh sau khi nướng được phân tích kỹ về thành phần hóa học, cấu trúc bột nhào và đặc điểm của bánh thành phẩm.

Kết quả cho thấy bánh mì có bổ sung bột hướng dương chứa nhiều protein và chất xơ hơn đáng kể so với bánh mì truyền thống. Ở tỷ lệ thay thế cao nhất, hàm lượng protein trong bánh đạt 27,16%, trong khi bánh mì thông thường chỉ khoảng 8,27%.

Ngoài ra, mức độ chất chống oxy hóa trong bánh cũng tăng lên rõ rệt. Các nhà khoa học đo hoạt tính chống oxy hóa bằng Trolox – một hợp chất tương tự vitamin E thường được sử dụng làm tiêu chuẩn trong các nghiên cứu dinh dưỡng. Kết quả cho thấy bánh mì có bổ sung bột hướng dương có khả năng chống oxy hóa cao hơn nhiều so với bánh mì làm hoàn toàn từ bột mì.

Không chỉ vậy, các thí nghiệm còn ghi nhận khả năng ức chế các enzyme tiêu hóa như α-amylase và lipase tụy. Điều này cho thấy bánh mì có chứa bột hướng dương có thể giúp làm chậm quá trình tiêu hóa tinh bột và chất béo, từ đó hỗ trợ kiểm soát đường huyết và quá trình hấp thụ chất béo trong cơ thể.

Ảnh hưởng đến cấu trúc bánh mì

Mặc dù mang lại nhiều lợi ích dinh dưỡng, việc sử dụng quá nhiều bột hạt hướng dương cũng có thể làm thay đổi đặc tính của bánh mì. Khi tỷ lệ bột hướng dương đạt từ 20% trở lên, bánh mì có xu hướng nhỏ hơn, đặc hơn và cứng hơn so với bánh mì truyền thống. Cấu trúc ruột bánh cũng thay đổi, làm giảm độ mềm và độ xốp.

Để khắc phục vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm thêm chiết xuất nước từ bột hạt hướng dương. Chiết xuất này được tạo ra bằng cách trộn bột với nước rồi lọc, không cần sử dụng thêm các phương pháp xử lý hóa học hoặc vật lý phức tạp.

Kết quả cho thấy việc bổ sung chiết xuất này giúp duy trì cấu trúc và độ mềm của bánh mì, khiến sản phẩm gần giống với bánh mì truyền thống hơn. Nhờ vậy, các nhà sản xuất có thể tận dụng lợi ích dinh dưỡng của bột hướng dương mà không làm giảm chất lượng cảm quan của sản phẩm.

Hướng đi cho sản xuất thực phẩm bền vững

Các nhà khoa học cho rằng trong tương lai, các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc kết hợp bột hướng dương và chiết xuất của nó theo nhiều tỷ lệ khác nhau, hoặc thậm chí sử dụng chiết xuất này để thay thế hoàn toàn bột hướng dương trong một số công thức. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất bánh mì tìm ra công thức tối ưu cho sản xuất quy mô công nghiệp.

Nghiên cứu này cũng là một ví dụ tiêu biểu cho việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành thực phẩm. Thay vì bỏ đi phụ phẩm sau quá trình sản xuất dầu hướng dương, các nhà khoa học đã tìm ra cách biến chúng thành nguyên liệu có giá trị cao.

Kinh tế tuần hoàn hướng tới việc thay đổi mô hình sản xuất truyền thống “khai thác – sản xuất – thải bỏ”. Thay vào đó, các nguồn tài nguyên được sử dụng hiệu quả hơn, kéo dài vòng đời và được tái sử dụng trong nhiều chu trình khác nhau.

Trong trường hợp này, một phụ phẩm ít được chú ý đã trở thành nguyên liệu chức năng giúp tăng giá trị dinh dưỡng cho bánh mì, đồng thời giảm lãng phí tài nguyên và tác động môi trường. Đây được xem là hướng đi đầy triển vọng cho ngành công nghiệp thực phẩm trong bối cảnh nhu cầu về các sản phẩm vừa tốt cho sức khỏe vừa thân thiện với môi trường ngày càng tăng.

                                         Nguồn: N.M.P (NASTIS), sciencedaily.com

Các nhà nghiên cứu từ nhiều đơn vị đối tác của German Center for Diabetes Research (DZD) đã hợp tác với các đồng nghiệp quốc tế để phát triển một phương pháp mới nhằm hình dung hóa những thay đổi mô tinh vi trong tuyến tụy ở bệnh đái tháo đường tuýp 2. Kết quả nghiên cứu mang lại những hiểu biết mới về cơ chế hình thành và tiến triển của bệnh. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Communications.

Hiện nay, hơn 500 triệu người trên thế giới đang sống chung với đái tháo đường tuýp 2 và thường phải đối mặt với nhiều biến chứng nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc rút ra kết luận đáng tin cậy về tình trạng đường huyết của một cá nhân dựa trên các xét nghiệm mô học cổ điển vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều thay đổi hình thái tinh vi liên quan đến suy giảm tiết insulin và rối loạn chức năng tế bào beta hầu như không thể quan sát bằng mắt thường.

Nhằm thu hẹp khoảng trống chẩn đoán này, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một bộ dữ liệu quy mô lớn từ các lát cắt mô tụy của những người hiến tặng còn sống. Các mẫu được đối chiếu bằng phương pháp nhuộm màu và nhuộm miễn dịch huỳnh quang đa kênh, sau đó được chụp ở độ phân giải cao bằng kính hiển vi gigapixel.

Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã huấn luyện các mô hình học sâu có khả năng phân biệt tốt giữa mẫu mô của người mắc và không mắc đái tháo đường tuýp 2.

Các mô hình này không chỉ dự đoán chính xác tình trạng bệnh mà còn lần đầu tiên xác định được những cấu trúc mô đóng vai trò trung tâm trong bệnh lý; bao gồm những thay đổi tại các tiểu đảo tụy Langerhans, tế bào α, các sợi trục thần kinh và sự phân bố gần kề của các cụm tế bào mỡ với cấu trúc tiểu đảo tụy. Sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể giải thích (explainable AI), các đặc điểm được xác định đã được phân tích, định lượng và mô tả như những dấu ấn sinh học tiềm năng.

Đánh giá dựa trên trí tuệ nhân tạo này mang lại những hiểu biết mới về các biến đổi sớm và trước đây khó phát hiện trong đái tháo đường tuýp 2. Những phát hiện này mở ra triển vọng mới trong việc làm rõ các quá trình then chốt diễn ra tại tuyến tụy trong quá trình hình thành và phát triển của bệnh.

      Nguồn: T.V (NASTIS), theo https://medicalxpress.com/news/, 2026

Giỏ hàng
Lên đầu trang

Đăng ký đặt mua

091 359 7827